Cây Ngải Riềng

 

 

…Căn nhà lá như lọt thỏm dưới đám tre gai, lồ ô . Chiếc tam bản với mái cà rèm cũ nát nằm im lìm ở bến sông, cột hờ vào thân cây mít ngả nghiêng như sắp đổ nhào xuống dòng nước …

            Ông bà Bảy không có con cái, vợ chồng già lùi lũi bên nhau như hai chiếc bóng, có khi cả ngày chỉ nói với nhau dăm ba câu, thét rồi quen, họ hiểu tánh nết nhau từ trên nét mặt, trên tiếng thở ngắn thở dài. Chiếc tam bản là nhà của họ hơn mười năm trôi nổi ở xứ người,  lúc tản cư 45-46 dạt về miệt Châu Đốc, bảy núi, đi từ kênh này qua kênh nọ, từ Vàm cỏ Đông qua Vàm cỏ Tây, theo kinh xáng về Hồng Ngự, ông Bảy làm đủ mọi nghề, thợ mộc, gặt mướn, gánh thuê…Một đêm băng đồng mùa nước nổi, chiếc ghe rệu rã già nua bị sóng bạc phá nước chìm nghỉm, vợ chồng quấn nóp co ro run cầm cập ngồi mép gò chờ sáng. Mất ghe, họ tá túc bên chái đình, ban ngày đi làm mướn, chiều về thổi lửa nấu cơm. Ông từ giữ đình thương hai vợ chồng tánh tình hiền lành siêng năng, thỉnh thoảng bảo họ phụ dọn dẹp, săn sóc đình làng, lúc họ hết công rồi việc.

Bảy Liễu bắt đầu biết chút thuốc nam nhờ phụ giúp ông từ già nhân hậu qua việc phụ chặt phơi sơ chế cây thuốc.


Thắm thoát năm qua năm. Mùa lũ lại về, nước đã lé đé sân đình,.

Vợ chồng Bảy Liễu đã dành dụm mua được chiếc ghe cũ, tính chuyện về quê…

Ông từ già rất muốn vợ chồng bảy Liễu ở lại với ông, sau này thay ông giữ đình, họ rất quí mến ông, xem ông như cha chú, cũng nghĩ đến câu đất lành chim đậu, nhiều đêm trằn trọc thở dài, vợ chồng neo đơn hiếm muộn, chỉ biết nương tựa vào nhau. Ngặt nỗi, nhớ lại mồ mả cha mẹ, ông bà còn nơi quê xa không ai chăm sóc…

         Trời chạng vạng,  ông từ già gọi “ Bảy ơi !!”  . Bảy Liễu “ Dạ “ rồi bước vội vào đình, ông từ già ngồi trên chõng tre ở phía đông hiên, nơi cao ráo nhất. “ Qua chẳng có gì cho chú em, chỉ có cái này, chú mang theo, có duyên thì dùng cứu người “ . Ông đưa cho Bảy Liễu gói giấy vàng úa, bên trong có tờ giấy vàng với 1 chữ tượng hình như chữ phạn, ông dặn dò

      Đây là chữ bùa Lỗ Ban, đúng 12 giờ khuya, chú dùng lúa nếp rang nỗ (như bắp bung), ra nơi thanh vắng, vẻ luyện chữ này, đọc câu chú kèm theo, 7 lần thì ném nếp 1 lần.


Nói xong ông bắt bảy Liễu học thuộc câu chú rất líu lưỡi khó thuộc, nhưng cũng may là chỉ có 12 từ nên chẳng mấy chốc bảy Liễu đã thuộc lòng.

Trời ngớt mưa vài ngày, lợi dụng chút nắng, vợ chồng Bảy Liễu, trét chai phơi ghe.

-      Nước bắt đầu đứng rồi, vài hôm nữa mình đi cho khỏi ngược nước !Bảy Liễu ngồi trên sạp tre trầm ngâm nhìn sân đình, nói với vợ .

-      Tui lội vô chợ mua ít đường chảy với đậu xanh, bà nấu nồi chè mình cúng tạ lễ thành hoàng, sau để mời chú Hai ! Bảy Liễu xăn quần lội ra sân nói vói lại.


   Họ rời nơi tạm trú thân yêu từ tờ mờ sáng, đi sớm thì ít sóng, ít gió. Miệt đồng mênh mông trắng xoá này, khi gió nổi lên thì sóng có thể nhận chìm ghe như không . Ông từ già tặng bảy Liễu 1 chậu cây lá trông như lá cây gừng, cây nghệ. “ Giống này nhảy chồi rất nhanh, “qua” tách cho chú em 1 bụi, nó cũng dễ trồng, bài thuốc “qua” chỉ cho chú rất cần có vị thuốc của củ cây này “Ông từ già vỗ vai nói với bảy Liễu…


       Sau trận càn với hàng chục tiểu đoàn lê dương, miệt Tà Dơ, Đồng Rùm thật xơ xác điêu tàn. Vợ chồng bảy Liễu dạt về vùng Suối Đá, gần Dương Minh Châu. Họ làm rẫy, giăng câu, hái măng le, lồ ô . Mấy sào ruộng sau nhà chỉ đủ ăn vài tháng. Thím Bảy chừng mươi ngày lại chèo ghe về Phước Ninh, Cây Me mua bán trao đổi vài món đồ chạp phô cần thiết.


  Xóm nhà họ chỉ lơ thơ chừng hơn chục nóc gia. Nhà này cách nhà kia một hai tiếng “ới”. Dần dà Bảy Liễu cũng nỗi tiếng trong vùng nhờ tài trị sưng trặc, rắn cắn…Có khi có người rước đi trị bệnh xa một vài ngày, tận Tha La, Tà Béc. Bụi cây ngày nào của ông từ già nay đã thành một khoảnh vài tầm um tùm sau nhà xanh mướt. Củ của nó ông giã nhỏ, thêm vài vị cây cỏ khác dùng để trị nhiều thứ bệnh, trị làm phước không lấy tiền.


  Một chiều chạng vạng, bà Bảy đang nằm võng, té lăn xuống đất la oái oái hổn hển gọi  “Ông ơi…!!” Ông Bảy chạy vào thấy bà mặt mày tái mét ú ớ chỉ lên cây đòn dông nóc nhà. Bảy Liễu nhìn theo rồi cười khà “ Bà làm tui hết hồn, tưởng chuyện gì, đó là cặp rắn ráo*, nó hiền lắm không có nọc, bắt chuột rất giỏi…”



Cặp rắn ngày càng dạn dĩ, chạng vạng lại trườn vào nhà nằm im trên đòn dông rình chuột. Khuya thì bò đi mất, có lẽ về hang.

Cách nhà Bảy Liễu dăm công đất là nhà vợ chồng Út Đực, cũng mới về ở  hơn một năm. Vợ y có tiếng mồm mép chua ngoa, nói năng sấn sả….

Một hôm chị ta chèo xuồng đi tìm bầy vịt thiếu mất 2 con, thấy mớ lông vịt vướng vãi trong đám cây ngải sau nhà ông Bảy. Chị ta te tái đi về nhà rao ầm lên là đám cây đó là cây ngải độc, ăn thịt gà vịt. Tin đồn cứ lan đi từ đó, ông Bảy không còn sức giải thích nữa, ông buồn bã lặng thinh từ dạo ấy.


Một ngày nọ, khi cặp rắn trườn vào nhà, ông lấy cây roi bằng nhánh tre gai, nhịp xuống nền nhà “ Từ giờ thì tụi bây biến đi cho khuất mắt tao ..” Ông vừa nhịp roi đen đét vừa rưng rưng nước mắt. Cặp rắn dường như cũng hiểu ý, từ từ bò đi mất hút sau đám ngải riềng. Ông biết thủ phạm của chuyện mất vịt nếu không do chồn cáo thì chúng là thủ phạm chứ không phải do đám cây vô tội kia. Biết sao bây giờ, nói cũng chẳng ai tin vì thiên hạ cứ vừa kính trọng vừa nghi sợ ông.


Gần sáu tháng sau thì ông Bảy chết . Buổi chiều đó ông không ăn cơm, mà chỉ uống khan mấy ly rượu với vài miếng khô, ông nằm im trên võng lặng lẽ ra đi, khi trời mới hừng đông, bên bếp un còn nghi ngút khói…

          

….Chiếc ca nô từ đập chính Dầu Tiếng đưa chúng tôi quay lại nơi này. Các số liệu chúng tôi đã trình bày, tổng sinh khối hữu cơ trên tổng khối lượng nước tích là an toàn . Theo yêu cầu của Sở Y Tế Tây Ninh, 3 tháng sau, cuối 1984, chúng tôi phải khảo sát bổ sung thêm địa điểm khi có tin nói rằng ở đây có đám cây ngải độc


Nền nhà chỉ còn lờ mờ dưới nước, đám cây ngải mọc chung với đám cỏ tranh, cỏ ống hoang dại. Một ngôi mả lạng, lẫn trong đám cỏ tranh chỉ nhận ra được nhờ tấm mộ bia bằng gỗ mun đã hoen rửa, trơ ra những sớ mộc đen mốc,   nứt nẻ .Tôi chỉ đọc được cái tên phía trên “…Huỳnh văn Liễu …” Tất cả đã ngập sâm sấp dưới vài tấc nước…



Anh T nhổ một bụi ngải, vò lá và ngửi “Đặc trưng của Alpinia (chi riềng) có lẽ một sp ( thứ, loài ) nào đây, để mang về định danh ..” K, tài xế đi theo chơi, vội nhảy xuống nhổ tấm mộ bia bỏ lên trước mũi cano “Để mang về cho có bằng chứng cụ thể là mình đã đến tận nơi


Buổi tối, ra sân khu nhà khách xem lũ trẻ xách thùng bắt dế cơm, nhìn sang góc tường cạnh hội trường, tôi thấy tấm mộ bia nằm trơ trọi…

Không cần định danh, về mặt sinh khối, đã kết luận an toàn về tỉ lệ hữu cơ phân hủy sau khi ngập của hồ . Chuyện xác định Alpinia sp chỉ là động tác cho có  

Mảnh đất của ông Bảy giờ đã chìm hẳn trong lòng hồ, tấm bia gỗ nằm đây là đúng hay sai. Sáng sớm mai chúng tôi phải về lại SG rồi, không biết có khi nào mới có dịp quay lại.

   

Nhưng sao tôi vẫn tin câu chuyện mà tôi đã tưởng tượng trên đây là sự thật, như là chuyện sắc không trên đời.

     

Khi mở tấm bản đồ để hồi ức lại chuyến đi, đọc báo thấy miệt Tha La phía trên hồ Dầu Tiếng : nào là Nhà máy đường Nước Trong, Chế biến mì Tân Châu, …phía dưới hồ là các khu công nghiệp Bình Dương, Củ Chi  thi nhau đổ vào sông Sài Gòn…Nước thải của chúng đáng sợ hơn nhiều lần mà không ai thắc mắc, hoặc có thắc mắc thì đùn qua đẩy lại...( chắc tại vì thiếu tin đồn )


Tấm mộ bia trơ trọi kia chắc hẳn đã biến mất từ lâu như những cây cỏ chìm dưới làn nước lạnh vô tình của hồ Dầu Tiếng …


  *    Rắn ráo (hổ hèo, long thừa..) Ptyas mucosus 


 Nguyễn Thanh Liêm, 2011